Chùa được xây dựng từ thời nhà Lý, nhưng phải đến đầu thời nhà Trần mới được xây dựng với quy mô lớn hơn.Chùa được xây dựng bên bờ sông Lục Nam, phía sau chùa là dãy núi Cô Tiên, phía trước chùa là dãy núi Nham Biền.
Từ quốc lộ 1A các bạn đi theo quốc lộ 31, tới ngã ba Đìa, sau đó rẽ phải đi theo đường 299 và theo biển chỉ dẫn trên đường là các bạn có thể đến với chùa La
Đây là biển chỉ dẫn ở ngã ba đường 31 cắt 299.
biển chỉ dẫn tại ngã ba thị trấn Tân Dân
cổng tam quan in hình trong nước
sau khi đi qua công tam quan này các bạn sẽ nhìn thấy được cảnh quan phía trước của chùa,nhưng các bạn đừng vội đi mà hãy rẽ sang bên phải để đi về phía cổng chính của chùa
đi qua cổng này là một sân rộng
Kiến trúc của chùa gồm có 4 khối chính. Khối thứ nhất gồm có chùa hộ pháp,tiếp theo là tòa thiên hương và chùa phật.
Chùa hộ có bày trí nhiều tượng;tòa thiên hương là 3 bức hoành phi và cửa võng thiếp vàng,gian thứ hai bày nhiều tượng phật và tượng các vị la hán.chùa phật là thế giới của tượng phật với kiến trúc điêu khắc mang đậm dấu ấn thời nhà Lê.Khối thứ hai là nhà tổ đệ nhất,kiến trúc đơn giản,nhưng có điểm đặc biệt là ở đây có bức hoành phi "trúc lâm hội thượng" và 3 pho tượng Trúc Lâm tam tổ(Trần Nhân Tông,Pháp Loa và Huyền Quang). Khối thứ 3 là gác chuông cao 2 tầng mái và khối thứ tư là nhà tổ đệ nhị có hai pho tượng tổ tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn.Chùa từng là nơi thuyết pháp của các vị Trúc Lâm tam tổ và là nơi định chức danh cho các tăng sĩ đời Trần.
Ngoài ra chùa còn có một "kho báu" của thiền phái Trúc Lâm nói riêng và của phật giáo Việt Nam nói chung đó là kho "mộc bản thư khố" với 3050 bản khắc gỗ có niên đại hàng trăm năm.Đại đức Thích Thanh Vịnh, trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm cho biết, trong tổng số 3.050 bản khắc gỗ tại chùa gỗ, hiện đã thống kê được 34 đầu kinh, sách. Riêng Hoa Nghiêm kinh đã gồm hơn 2.000 bản gỗ, chiếm tới 2/3 số bản khắc tại đây. Trong kinh này, Phật dạy: Muôn đức hạnh của con người cũng như hoa của đất, đem hoa này trang nghiêm phép pháp thân cho nên gọi là Hoa Nghiêm. Tại đây còn có nhiều bản kinh khác: Di Đà kinh, Tỳ kheo ni giới kinh; Sa di ni giới kinh; Thiền tông bản hạnh; Quan Thế Âm kinh; Khai thánh chân kinh; Đại thừa chỉ quán; Sa di ni uy nghi; Bản nguyện chân kinh; Tịnh độ sám nguyện. Bản Tỳ kheo ni giới kinh, quy định: Bậc Tỳ kheo phải giữ được đầy đủ 348 giới cấm, phân ra làm 7 khoản: 17 giới cấm thuộc về Tăng đàn (không được làm tổn hại sư tăng); Xả đọa có 30 giới cấm; Ba dật đề có 78 giới cấm; Bá chúng học pháp với 100 giới cấm; Đề sa di 8 giới cấm; Thất diện tránh 7 giới cấm… Sa di ni giới kinh có 10 điều ngăn cấm dành cho những người (từ 7- 19 tuổi) phụng sự nhà sư và phục dịch các công việc ở chùa. Kho mộc bản hiện còn bản khắc của 13 tác phẩm văn học do các cao tăng thời xưa sáng tác: Yên Tử nhật trình (ghi hành trình của các sư tổ từng trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm lên Yên Tử); Thiền tịch phú (những bài phú về việc tĩnh dưỡng tu thiền); Thích Ca giáng đản truyền (truyền thuyết về ngày sinh của Đức Phật Thích Ca); Thượng đế khuyến thế văn; Thần du phương ký; Thiếu thất phú; Kim khoa ngọc luật; Tây phương mỹ nhân truyền; Văn xương kiến thế văn; Đáp tịnh độ tông tùy vấn đáp; Thái thượng cảm ứng biên; Đế quân cứu thế văn.
Kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm cũng chứa nhiều sách giáo dục, khoa học cổ không chỉ dành cho nhà chùa mà còn dành cho cả quảng đại quần chúng nhân dân: Giới thực ngưu nhục (những lời khuyên răn không nên ăn thịt trâu); Giới đổ thập điều (10 điều khuyên răn không đánh bạc); Quá dâm thuyết (lời khuyên không được hoang dâm vô độ); Thái vi công quá cách (cách chế biến đồ ăn trong nhà chùa); An thai, thôi sinh phương (dạy các phương thuốc an thai, dưỡng thai hoặc tránh thai); Khuyến thế lương ngôn (lời khuyên làm việc thiện); Kết hữu phàm tứ huấn (bốn lời dạy trong việc kết bạn); Phụ kinh nghiệm cấp cứu thương (kinh nghiệm cấp cứu bệnh phụ nữ).
“Mộc bản thư khố” chùa Vĩnh Nghiêm
Bộ ván in pho sách "Yên Tử nhật trình" có niên đại cuối thế kỷ XVI, là bộ ván in cổ nhất của kho mộc thư chùa Vĩnh Nghiêm. Đa số các mộc bản được khắc vào triều vua Cảnh Hưng nhà Lê (thế kỷ XVIII), bản muộn nhất được khắc vào thời vua Thành Thái nhà Nguyễn. Các mộc bản này do các nghệ nhân ở Bắc Giang, Bắc Ninh và chủ yếu là Hải Dương khắc thành nhiều đợt, vật liệu là gỗ thị hầu hết được khai thác tại vườn chùa. Đây là loại gỗ rất phù hợp với việc chạm khắc, như mềm, mịn, dai, dễ khắc, ít cong, vênh, khó nứt vỡ và khi in chữ không bị nhòe. Văn bản được khắc bằng chữ Hán hoặc Nôm, chữ khắc ngược, khi in ra giấy sẽ trở thành chữ xuôi. Kích thước các mộc bản không đồng đều tùy theo từng kinh sách, bản khắc lớn nhất chiều dài hơn 1m, rộng 40 - 50cm, bản nhỏ nhất chỉ khoảng 15 x 20cm. Vì đã qua nhiều lần in cho nên các mảnh ván đều có màu đen bóng bởi bề mặt được phủ bởi lớp dầu mực in khá dày. Lớp dầu mực này thấm sâu vào ruột gỗ, có tác dụng chống thấm nước, ẩm mốc, mối mọt rất hiệu quả. Phần lớp ván in được khắc chữ trên hai mặt, chữ khắc chân phương sắc nét, độ khắc sâu 1,5mm. Mỗi mặt ván dùng để in hai trang sách. Biên lan có khung viền 4 lề trang sách với một đường chỉ to đi cùng một đường chỉ nhỏ, người xưa gọi là "văn vũ biên lan". Bản tâm (hay bản khẩu) thường khắc dòng chữ cho biết tên sách, cùng với số thứ tự của trang, đồng thời trên và dưới khắc đuôi cá, gọi là ngư vĩ. Hai bên phải trái của thượng hạ biên lan có "Thiên đầu - địa cước" rộng 2,5cm. Nhiều trang được các nghệ nhân xưa khắc đan xen thêm những bức minh họa đường nét tài hoa tinh tế, bố cục chặt chẽ hài hòa, xứng đáng là tác phẩm đồ họa trứ danh của mọi thời đại.
Mặc dù quý giá như vậy, nhưng suốt nhiều năm qua, việc bảo quản "Mộc bản thư khố" vẫn do nhà chùa đảm nhiệm, chưa thực sự có một phương án bảo tồn một cách khoa học. Đã mấy trăm năm tồn tại, với thời tiết khí hậu bất lợi của vùng chiêm trũng Trí Yên, nên một số bản mộc thư đã bị mục sứt, hoặc bị nhiễm nấm mốc. Theo ông Trần Văn Lạng, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, Bảo tàng tỉnh đã tiến hành kiểm kê, phân loại đối với kho mộc kinh. Để mộc kinh còn mãi với thời gian, bên cạnh phương pháp bảo tồn cổ truyền khá hiệu quả như xếp trên giá gỗ lim, chân giá có chậu bằng đá chứa dầu lạc… Hiện Bảo tàng tỉnh đang nỗ lực tìm kiếm, khai thác những kỹ thuật bảo quản tiên tiến, hiện đại. Để tránh nứt vỡ những mảnh ván khắc, trước mắt khắc phục bằng cách đóng, chốt gáy bằng đồng lá để tăng độ chắc chắn và giá trị thẩm mỹ. Đồng thời tiến hành phục chế một số mộc kinh bằng chất liệu phù hợp, hình thức tương đồng bản gốc để phục vụ nhu cầu tham quan tìm hiểu của du khách và các nhà nghiên cứu.
Và nếu trong hành trình đi lễ phật đầu năm các bạn đừng bỏ qua một trung tâm phật giáo đầu tiên của thiền phái Trúc Lâm bởi không phải ngẫu nhiên dân gian lại có câu thơ:
Ai về Yên Tử TrúcVĩnh Nghiêm chưa tới, thiền tâm chưa thành
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét